2 Đề thi học sinh giỏi cấp huyện môn Ngữ văn 8 - Năm học 2023-2024 - Trường THCS Đông Tây Hưng (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "2 Đề thi học sinh giỏi cấp huyện môn Ngữ văn 8 - Năm học 2023-2024 - Trường THCS Đông Tây Hưng (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: 2 Đề thi học sinh giỏi cấp huyện môn Ngữ văn 8 - Năm học 2023-2024 - Trường THCS Đông Tây Hưng (Có đáp án)
PHÒNG GD & ĐT TIÊN LÃNG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN LỚP 8 TRƯỜNG THCS ĐÔNG TÂY HƯNG Năm học 2023 – 2024 MÔN THI: NGỮ VĂN (Thời gian làm bài: 150 phút, không kể giao đề) ĐỀ 1 I.ĐỌC HIỂU (2,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi nêu bên dưới: Sự trưởng thành của con người luôn song hành cùng những vấp ngã và sai lầm. Vì thế, hãy chấp nhận điều đó như một lẽ tự nhiên. Khi trẻ học nói, học đi hay bất cứ điều gì, chúng đều phải nếm trải những va vấp. Chúng ta cũng vậy, có thể đằng sau những tư tưởng vừa lĩnh hội, hoặc sau sự chín chắn rèn giũa được là một thất bại, hay một bước lùi nào đó. Tuy nhiên, đừng đánh đồng những sai lầm ấy với việc ta không thể trưởng thành. Hãy hiểu rằng, như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một bước lùi gần và hãy tin tưởng rằng mọi trải nghiệm đều đem lại cho ta những bài học quý giá nếu ta biết trân trọng nó. Chính vì vậy, đừng giữ thái độ cầu toàn trong mọi sự. Dĩ nhiên, để đạt được điều mình mong muốn, ta phải không ngừng nỗ lực. Nhưng đừng yêu cầu cuộc đời phải viên mãn thì ta mới hài lòng và cũng đừng đòi hỏi mọi mối quan hệ phải hoàn hảo thì ta mới nâng niu trân trọng. Hoàn hảo là một điều không tưởng. Trên đời, chẳng có gì là hoàn thiện, hoàn mĩ cả. [...] Khi kiếm tìm sự hoàn hảo, người ta dễ trở nên hà khắc, hay phán xét bản thân và mọi người. Bởi vậy, trên con đường trưởng thành của mình, mỗi người cần phải học cách chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có. (Theo Quên hôm qua sống cho ngày mai - Tian Dayton, Ph. D, biên dịch: Thu Trang - Minh Tươi, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2014, tr.68 - 69) a. ( 0,5 điểm). Em hiểu như thế nào về ý kiến: “như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một bước lùi gần” ? b ( 1,5 điểm). Em có đồng tình với quan niệm: “trên con đường trưởng thành của mình, mỗi người cần phải học cách chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có” ? Vì sao? II. LÀM VĂN (8,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm): Quách Mạt Nhược từng nói: "Mặt trời mọc rồi mặt trời lại lặn, vầng trăng tròn rồi lại khuyết, nhưng ánh sáng mà người thầy rọi vào ta còn mãi trong cuộc đời." Từ câu nói trên, cùng với những hiểu biết về xã hội, hãy viết bài văn nghị luận ngắn nêu suy nghĩ của em về tình thầy trò. Câu 2 ( 5,0 điểm): Bàn về thơ,Tố Hữu cho rằng: "Đọc một câu thơ hay, người ta không chỉ thấy câu thơ,mà còn thấy tình người trong đó". Hãy khám phá tình người qua đoạn thơ sau: “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp ưu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa. Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà thiết tha thế! Mẹ cùng cha bận công tác không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc Tu hú ơi!Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?” ( Bếp lửa – Bằng Việt) HƯỚNG DẪN CHẤM Câu Nội dung Điểm a. HS nêu được ý hiểu của mình về ý kiến: “như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một bước lùi gần” - Có thể hiểu ý kiến “như một lẽ tự nhiên, sau một bước tiến xa luôn tồn tại một bước lùi gần” như sau: Đây là một quy luật trong cuộc 1 sống, không có thể chiến thắng liên tiếp, thất bại luôn song hành cùng với thành công. Sau mỗi thành công, sau mỗi bước tiến dài trong sự nghiệp, công việc, con người cần có những phút giây suy ngẫm, chiêm nghiệm lại để thấy mình đã làm được gì và rút ra những 0,5 bài học cần thiết cho bản thân. HS có thể trình bày cách khác nhưng hợp lí, GV vẫn cho điểm. b. Học sinh trình bày được suy nghĩ riêng của mình theo hướng làm rõ và khẳng định hoặc phủ định ý kiến: “Trên con đường trưởng thành của mình, mỗi người cần phải học cách chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có”. - Nếu lập luận theo hướng khẳng định ý kiến trên là đúng, học sinh cần nhấn mạnh: Cuộc sống vốn dĩ không hoàn hảo, chúng ta cần phải biết chấp nhận những thứ vốn có, đừng quá “ảo tưởng” tìm 1,5 kiếm những thứ xa vời. - Từ việc “chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có”, con người có thể hòa nhập vào cuộc sống, hạn chế bớt “cái tôi” của bản thân để trưởng thành và chín chắn hơn. “Chấp nhận mình” để không quá nghiêm khắc với bản thân, “chấp nhận người” để không quá hà khắc với mọi người. Bên cạnh đó, nếu không biết “chấp nhận”, con người rất dễ rơi vào trạng thái tuyệt vọng, bế tắc trong cuộc sống - Nếu lập luận theo hướng phủ định ý kiến trên, cần nhấn mạnh: Cuộc sống muôn hình vạn trạng luôn đổi thay, sự “chấp nhận người khác và chấp nhận bản thân như vốn có” có thể biến con người trở nên lạc hậu, trì trệ, không bắt kịp xu thế của thời đại. Điều đó sẽ cản trở sự phát triển chung của xã hội loài người... Nếu lập luận cả theo hướng vừa khẳng định vừa phủ định ý kiến thì cần kết hợp cả hai nội dung trên. 1. Yêu cầu về hình thức kỹ năng: - HS biết cách làm một bài văn nghị luận xã hội, dạng bài bày tỏ ý kiến trước một tư tưởng, một quan điểm. - Biết kết hợp các thao tác nghị luận: Giải thích, chứng minh, bình 0,5 luận..., biết lập luận chặt chẽ để bài làm có sức thuyết phục. - Biết đặt vấn đề vào thực tế cuộc sống để bàn luận: Có sự hiểu biết từ thực tế cuộc sống để lấy được những dẫn chứng tiêu biểu, biết phân tích, bàn luận để làm nổi bật vấn đề. - Đúng hình thức bài văn, chữ viết sạch, đẹp, không sai lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu. * Yêu cầu về kiến thức: 1. Mở bài: 2 - Dẫn dắt vấn đề. - Trích câu nói và chỉ ra vấn đề cần nghị luận 2. Thân bài: 0,25 a. Giải thích sơ lược vấn đề: + Mặt trời, vầng trăng : là hai ngôi sao có tác động to lớn nhất đến trái đất, là những vì tinh tú của đất trời, có chức năng tỏa sáng cho trái đất, mang lại sự sống cho trái đất. 0,75 + Mọc, lặn, tròn, khuyết: là những quy luật của chúng, tự nhiên, tuần tự, tuần hoàn. + Ánh sáng mà người thầy rọi vào ta còn mãi trong cuộc đời: sự vĩnh cửu, trường tồn, bất biến của những giá trị tinh thần mà người thầy mang lại cho mỗi học sinh. + Tình thầy trò: là tình cảm của thầy dành cho trò và trò dành cho thầy, là ân tình, ân nghĩa, đạo lý.... =>Với cách lập luận tương phản, Quách Mạt Nhược đã gửi tới mỗi chúng ta lời nhắn nhủ: người thầy có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự trưởng thành của mỗi người. Từ đó nhắn gửi chúng ta phải luôn trân trọng, biết ơn, khắc ghi công lao của người thầy. 1,0 b. Bàn luận, mở rộng vấn đề: + Khẳng định câu nói của Quách Mạt Nhược là đúng. - Người thầy có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người: + Trong cuộc đời mỗi một con người đều có những người thầy đi qua và trong hành trình đó mỗi người thầy sẽ lưu lại đó một dấu ấn, chiếu rọi vào đó những nguồn ánh sáng riêng, ánh sáng của tri thức văn hóa, ánh sáng của tình yêu thương, của ý chí nghị lực, của niềm tin. của ước mơ hoài bão lí tưởng sống; + Người thầy không chỉ dạy về kiến thức mà còn dạy cách đối nhân xử thế, chỉ bảo, dìu dắt học trò trưởng thành không chỉ về nhận thức mà còn về tâm hồn, tình cảm, nhân cách. Chính vì thế nguồn sáng mà người thầy chiếu rọi sẽ còn mãi trong cuộc đời mỗi con người. - Tình thầy trò là tình cảm cao đẹp, đáng trân trọng, gìn giữ. Đó là sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của thầy với trò; là sự trân trọng, biết ơn của trò với thầy. Hình ảnh người thầy luôn đi theo, dõi bước mỗi hành động, việc làm, ước mơ của trò. - Người học trò phải luôn thể hiện tấm lòng biết ơn, trân trọng thầy cô; thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo qua những việc làm, hành động cụ thể, thiết thực. + Mở rộng vấn đề: - Vai trò của người thầy là vô cùng quan trọng tuy nhiên sự nỗ lực của mỗi cá nhân cũng là yếu tố quyết định đến sự thành công của mỗi người. Trong cuộc sống, để có thành công mỗi chúng ta còn phải không ngừng học hỏi bạn bè, thực tế cuộc sống xã hội, trường đời... - Lòng biết ơn thầy cô đã trở thành truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Song đáng buồn là ngày nay truyền thống ấy đang dần có nguy cơ mai một và biến đổi về tính chất (Thí sinh phân tích nguyên nhân và bày tỏ suy nghĩ của mình trước thực trạng ấy). c. Bài học nhận thức 0,25 - Tình thầy trò phải được thể hiện chân thành bằng những việc làm, hành động đúng, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. - Mỗi chúng ta cũng phải biết phê phán, lên án những tư tưởng vô ơn bạc nghĩa, chà đạp lên tình nghĩa thầy trò. 0,25 - Cần giữ gìn, trau dồi, phát triển truyền thống tốt đẹp. 3. Kết bài: - Khẳng định lại ý kiến của Quách Mạt Nhược - Bài học cho bản thân 1. Yêu cầu về hình thức, kĩ năng: 0,5 - Học sinh hiểu đúng yêu cầu đề bài, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Bố cục rõ ràng, luận điểm khoa học, chặt chẽ, phép lập luận phù hợp. - Lời văn chính xác, sinh động, có cảm xúc. - - Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu 3 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm trong bài viết theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những nội dung sau: a. 2. Yêu cầu về nội dung: a. Mở bài: 0,5 - Dẫn dắt trích dẫn ý kiến cần bình luận b. Thân bài: * Giải thích:: - Đọc: là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc. - Câu thơ hay: Là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, có khả 1,0 năng lay động lòng người, có giá trị tinh thần bền vững,có sức sống mãnh liệt trong lòng người đọc, cũng là hình thức tồn tại của những tư tưởng tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm. - Tình người: Tư tưởng, tinh cảm,cảm xúc tạo nên giá trị nội dung của câu thơ. => Quan niệm của Tố Hữu đề cập đến giá trị của thơ từ góc độ của người tiếp nhận: giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng, tình cảm được biểu hiện trong thơ. *Chứng minh: - Giới thiệu khái quát về tác giả , tác phẩm - Khám phá tình người trong bài thơ 2,0 - Bài thơ giới thiệu về hình ảnh bếp lửa. Từ đó, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của con người đặc biệt là tình cảm bà cháu. + Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mơ tuổi trẻ + Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963 khi tác giả là du học sinh Liên Xô Chủ đề bài thơ gợi lại những kỉ niệm về người bà và tình bà cháu sâu sắc, thấm thía * Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu - Dòng hồi tưởng về bà bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa + Bếp lửa “chờn vờn sương sớm” – bếp lửa thực + Bếp lửa “ấp iu nồng đượm” diễn tả sự dịu dàng, ấm áo, kiên nhẫn của người nhóm lửa + Biện pháp điệp từ (điệp từ “bếp lửa”) gợi lên hình ảnh sống động lung linh nhưng hết sức thân thuộc gần gũi với người cháu → Hình ảnh bếp lửa làm trỗi dậy dòng kí ức về bà và tuổi thơ - Kỉ niệm về tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn + “Đói mòn đói mỏi” người cháu thấy ám ảnh bởi nạn đói và quá khứ đau thương của dân tộc + Ấn tượng về khói bếp hun nhèm mắt cháu để khi nghĩ lại “sống mũi còn cay” + Dòng hồi tưởng, kỉ niệm gắn với âm thanh tiếng tu hú của chốn đồng nội: tiếng tu hú được nhắc tới 5 lần trong bài khi thảng thốt, lúc khắc khoải, mơ hồ tất cả để gợi lên không gian mênh mông, bao la, buồn vắng đến lạnh lùng + Tâm trạng của cháu vì thế cũng tha thiết, mãnh liệt hơn bởi sự đùm bọc, che chở của bà - Tuổi thơ khó khăn gian khổ nhưng cháu được mà yêu thương,che chở + ”bà dạy”, bà chăm” thể hiện sâu đậm tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương vô bờ và sự chăm chút của bà đối với cháu + Ngay cả trong gian khó, hiểm nguy của chiến tranh bà vẫn vững vàng – phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng ( Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh) → Qua dòng hồi tưởng về bà, những dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan xen nhuần nhuyễn giữa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nỗi nhớ của người cháu thể hiện tình yêu thương vô hạn đối với bà Tác giả rất thành công trong việc sáng tạo ra hình tượng mang ý nghĩa thực, mang ý nghĩa biểu tượng: bếp lửa - Kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự phù hợp với dòng hồi tưởng và tình cảm của cháu - Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín: những điều thân thiết của tuổi thơ của mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình cuộc đời, tình yêu thương và lòng biết ơn chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, quê hương -Tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm nổi bật cái tình người trong bài thơ. * Đánh giá mở rộng: - Khẳng định lại ý kiến trên Như vậy, bằng biện pháp tu từ điệp ngữ và các từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, ba khổ thơ đầu của bài thơ đã giúp người đọc cảm nhận 0,5 được trọn vẹn tình bà cháu thiêng liêng sâu đậm. Từ hình ảnh một bếp lửa, nhà thơ nhớ về bà và những kỉ niệm sống bên bà để từ đó bộc lộ niềm yêu thương, sự thấu hiểu, lòng biết ơn đến người bà của mình và cũng là với quê hương đất nước. Tình cảm cao đẹp ấy thật đáng trân trọng. * Kết bài: Khẳng định lại giá trị của tác phẩm,mối liên hệ giữa Tác 0,5 giả - Tác phẩm – Bạn đọc PHÒNG GD & ĐT TIÊN LÃNG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN LỚP 8 TRƯỜNG THCS ĐÔNG TÂY HƯNG Năm học 2023 – 2024 MÔN THI: NGỮ VĂN (Thời gian làm bài: 150 phút, không kể giao đề) ĐỀ 2 I. ĐỌC HIỂU (2,0 ĐIỂM) Câu 1 (2,0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Tuổi thơ chở đầy cổ tích Thời gian chạy qua tóc mẹ Dòng sông lời mẹ ngọt ngào Một màu trắng đến nôn nao Đưa con đi cùng đất nước Lưng mẹ cứ còng dần xuống Chòng chành nhịp võng ca dao. Cho con ngày một thêm cao. Con gặp trong lời mẹ hát Mẹ ơi!trong lời mẹ hát Cánh cò trắng, dải đồng xanh Có cả cuộc đời hiện ra Con yêu màu vàng hoa mướp Lời ru chắp con đôi cánh “Con gà cục tác lá chanh”. Lớn rồi con sẽ bay xa. (“Trong lời mẹ hát”– Trương Nam Hương) a. (0,5 điểm): Nhân vật người mẹ trong bài thơ được miêu tả là một người như thế nào? b. (1,5 điểm): Trong bài thơ trên có hình ảnh trong lời hát được miêu tả. Đó là những hình ảnh nào, những hình ảnh đó gợi cho em suy nghĩ gì? II. LÀM VĂN (8,0 điểm) Câu 1 (3.0 điểm): Amburgh đã phải khẳng định chắc chắn rằng: “Không có kẻ nào bần cùng, thiếu thốn bằng những người không có lòng biết ơn.” Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên? Câu 2 ( 5,0 điểm): Nhà văn Thạch Lam đã chia sẻ:”Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng thêm trong sạch và phong phú hơn.” Em hiểu ý kiến trên như thế nào?Thông qua truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn Thành Long hãy làm sáng tỏ ý kiến trên? HƯỚNG DẪN CHẤM Câu Nội dung Điểm a. HS trình bày ý hiểu của mình về sự độc đáo trong cách sử dụng từ ngữ trong câu thơ. Dưới đây là gợi ý tham khảo 1 Người mẹ được tái hiện trong bài thơ là một người tần tảo nuôi con 0,5 qua tháng năm, vượt qua những khó khăn của cuộc đời để nuôi con khôn lớn. Người mẹ được tái hiện qua những lời hát ru, qua hình dáng nhỏ nhắn, qua mái tóc bạc ghi dấu thời gian, qua tấm lưng còng chịu nhiều sương gió. Những câu thơ như khắc ghi lại bóng dáng mẹ cao cả, suốt đời hi sinh cho con của mình những điều tốt đẹp nhất. b.Yêu cầu: * Hình thức: - HS có thể viết thành đoạn văn, hoặc theo các ý đều được; chữ viết sạch, 0,25 đẹp, không sai lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu. * Nội dung: -Trong lời mẹ hát có những hình ảnh sau: cánh cò trắng, cánh đồng, hoa mướp 1,25 - Đó là những hình ảnh dung dị, đời thường của cuộc đời hằng ngày, cuộc đời ấy có sự gắn bó mật thiết với tuổi thơ của đứa trẻ. Khi nghe lời mẹ hát, cuộc đời như được thu nhỏ trong tầm mắt của đứa trẻ, trở thành suối nguồn tưới mát tâm hồn đứa trẻ, khiến đứa trẻ không thế nào quên được. -Những hình ảnh xuất hiện trong lời ru của mẹ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển tâm hồn của người con. Lời ru của mẹ đã mang cả thế giới truyền đạt lại cho con, lời ru đó cùng con khôn lớn và đã là thứ cổ vũ tinh thần con đến suốt cuộc đời. ...... HS có thể trình bày cách khác nhưng hợp lí, GV vẫn cho điểm. 1. Yêu cầu về hình thức kỹ năng: - HS biết cách làm một bài văn nghị luận xã hội. - Biết kết hợp các thao tác nghị luận: Giải thích, chứng minh, bình luận..., biết lập luận chặt chẽ để bài làm có sức thuyết phục. 0,5 - Biết đặt vấn đề vào thực tế cuộc sống để bàn luận: Có sự hiểu biết từ thực tế cuộc sống để lấy được những dẫn chứng tiêu biểu, biết phân tích, bàn luận để làm nổi bật vấn đề. - Đúng hình thức bài văn, chữ viết sạch, đẹp, không sai lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu. 2. Yêu cầu về nội dung: HS trình bày suy nghĩ về ý kiến Amburgh đã phải khẳng định chắc chắn rằng: “Không có kẻ nào bần cùng, thiếu thốn bằng những người không có lòng biết ơn.” 2 Học sinh có thể bày tỏ những suy nghĩ khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau: 2.1. Giải thích: -Không có kẻ nào bần cùng, thiếu thốn bằng những người không có lòng biết ơn. Nếu con người không có lòng biết ơn và xã hội thiếu những suy 0,5 nghĩ về những điều tốt đã được làm, thì hậu quả không chỉ đơn thuần là sự bần cùng trong tâm hồn như Amburgh đã nói, mà còn là sự lạnh lùng và vô cảm trong xã hội, gây mất chân thành trong quan hệ giữa con người. 2.2. Bàn luận - Chúng ta cần biết ơn những người đã giúp đỡ và hỗ trợ chúng ta trong cuộc 0,5 sống, cũng như những người đã làm việc vất vả để xây dựng xã hội chúng ta đang sống. Lòng biết ơn giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về giá trị của những gì chúng ta có được, đồng thời giúp chúng ta tôn trọng và đối xử tốt với những người xung quanh. -Như một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, chúng ta cần nhớ đến nguồn gốc và bày tỏ lòng biết ơn đối với những người đã có công, dù đó là những người anh hùng trong lịch sử hay những người phụ nữ trong cuộc sống thường nhật. -Lòng biết ơn không chỉ đơn giản là cảm kích đơn thuần vì những gì người 0,25 khác đã làm cho ta, mà còn là một niềm vui khó tả khi ta nhận ra rằng trên thế giới còn nhiều điều tốt đẹp và người tốt. -Sự thúc giục bản thân giúp đỡ những người xung quanh và làm điều tốt đẹp 0,25 để đáp lại lòng biết ơn đó là điều quan trọng. Sống với tấm lòng và trái tim luôn biết ơn người khác là khởi nguồn để nuôi dưỡng các đức tính tốt đẹp. Và biểu hiện cao nhất của lòng biết ơn không phải chỉ là nhớ mãi hay tưởng niệm về những người đã giúp đỡ ta, mà còn là tạo ra cơ hội để làm điều tốt đẹp hơn, tạo ra nhiều ơn nữa. (Học sinh lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh) 2.3. Mở rộng, nâng cao vấn đề -Tuy nhiên, không phải ai cũng thấu hiểu được giá trị to lớn của lòng biết 0,5 ơn và không phải ai cũng có ý thức đền đáp công ơn. Trên thực tế, xã hội vẫn còn nhiều người sống vì bản thân, cho rằng những giá trị tốt đẹp mà họ đang được hưởng là điều đương nhiên, mặc kệ người khác. Những người như vậy cần bị chỉ trích vì lối sống ích kỉ và thiếu tình cảm đối với người khác. -Tạo ơn không chỉ để người khác biết ơn mình, mà để biết ơn cuộc sống đã đưa ta tới nơi này và cho ta cơ hội để tạo ơn và biết ơn. Hãy sống với lòng biết ơn và tạo ra những điều tốt đẹp để thể hiện lòng biết ơn của mình. 2.4. Bài học nhận thức, hành động: - Chúng ta có thể thể hiện lòng biết ơn thông qua suy nghĩ và hành động. 0,5 Chúng ta cần nhớ công ơn của những người đi trước và tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tỏ lòng biết ơn thông qua các hành động đơn giản hàng ngày, chẳng hạn như giúp đỡ gia đình và người thân, tôn vinh giáo dục bằng cách tôn trọng giáo viên, và tỏ lễ phép với những người xung quanh. - Chúng ta chỉ được sống một lần, vì vậy hãy trở thành những công dân tốt, biết ơn những người xung quanh và cố gắng nâng cao trình độ để trở nên hữu ích hơn cho xã hội. Tất cả những nỗ lực mà chúng ta đang thực hiện hằng ngày sẽ đưa đến kết quả tốt trong tương lai. Hãy không ngừng hoàn thiện bản thân để trở nên tích cực hơn. 1. Yêu cầu về hình thức, kĩ năng: - Làm đúng kiểu bài nghị luận văn học. 0,5 - Biết cách xây dựng và trình bày hệ thống luận điểm một cách hợp lí - Bố cục rõ ràng; kết cấu chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, mạch lạc. - - Không mắc các lỗi: chính tả, dùng từ, ngữ pháp,... a. 2. Yêu cầu về nội dung: b. Chức năng giáo dục của văn chương, làm sáng tỏ qua truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa”của Nguyễn Thành Long. 0,5 2.1. Mở bài: Có thể mở bài theo nhiều cách nhưng phải: - Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận. 3 2.2. Thân bài. * Giải thích - Ý kiến của nhà văn Thạch Lam bàn về chức năng giáo dục của tác phẩm 0,5 văn chương (sức mạnh của văn chương).”Văn chương là một thữ khí giới thanh cao và đắc lực.” Nghĩa là sứ mệnh của văn chương là mang ngọn lửa của yêu thương, tình người, của niềm tin, khát vọng và là “vũ khí”giúp nhà văn hoàn thành sứ mệnh của mình. Hơn thế, văn chương còn “tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác” tức là vạch trần, phê phán những cái xấu xa, độc ác đang tồn tại trong xã hội và đòi hỏi diệt trừ thay thế nó.Từ đó “làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”, bồi đắptinh thần, thanh lọc tâm hồn,tình cảm con người.Một tác phẩm văn học chân chính phải là “thứ khí giới thanh cao và đắc lực”,đầy tinh tế nhưng có sức công phá mãnh liệt, hướng đến phản ánh hiện thực xã hội, tố cáo những điều “giả dối và tàn ác” đã cướp đi hạnh phúc con người. Nhưng không chỉ dừng lại ở việc đứng ngoài lề cuộc sống mà khắc họa hiện thực khô cứng, văn chương đề ra hướng đi cho con người, giúp tâm hồn con người “trong sạch và phong phú hơn”. -Trên hành trình sáng tạo, người nghệ sĩ phải hòa mình vào cuộc đời, không chỉ nâng niu, trân trọng niềm hạnh phúc của con người mà còn thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc với cuộc đời, với nhiều số phận, cảnh ngộ, dám nói lên nỗi đau và cả khát vọng chính đáng của con người,lên tiếng tố cáo cái xấu, cái ác. Sự xúc động ấy phải mãnh liệt thì nhà văn mới có thể cầm bút sáng tạo. Con đường ấy gian khổ,lắm chông gai, nhều nhọc nhằn,thậm chí cô đơn nhưng người nghệ sĩ phải dấn bước và đi tới cùng để tìm sự thật, để truyền tới người đọc ngọn lửa yêu thương, niềm tin,nhiệt huyết và khát vọng cao đẹp,làm thay đổi “mắt ta nhìn, óc ta nghĩ ”.Và truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực .làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”. * Chứng minh: Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết về truyện ngắn và kí. Ông viết 1,25 văn từ thời còn kháng chiến chống Pháp.Các sáng tác của ông thể hiện niềm tin yêu và gắn bó thiết tha với đất nước,con người. Truyện ngắn của Nguyễn Thành Long có lối viết nhẹ nhàng,giàu chất thơ,giọng văn trong sáng. -Nguyễn Thành Long nhận được giải thưởng Phạm Văn Đồng do Chi hội văn nghệ liên khu V trao tặng vào năm 1953 cho tập bút ký “Bát cơm Cụ Hồ” (1952). Ngày 25 tháng 7 năm 2008, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. -Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai trong mùa hè 1970 của nhà văn. Truyện được rút ra từ tập “Giữa trong xanh” (1972). Luận điểm 1: Anh thanh niên có lẽ sống, lý tưởng sống cao cả đáng trân trọng. 1,25 - Sống giữa những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, anh luôn khát khao được cầm súng ra mặt trận, anh đã cùng bố viết đơn xin ra lính... - Ý thức được ý nghĩa thiêng liêng của công việc, anh sẵn sàng vượt bao thử thách, gian khổ, đặc biệt là nỗi cô đơn để hoàn thành nhiệm vụ. - Cũng vì ý thức trách nhiệm ấy mà anh không những không cảm thấy chán, không cảm thấy sợ mà còn đặc biệt yêu nghề, say mê với công việc của mình: "Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi..." Luận điểm 2: Anh thanh niên có tâm hồn trẻ trung, yêu đời, yêu cuộc sống - Là thanh niên, lại sống nơi heo hút, vắng người, nhưng anh không sống buông thả mà đã biết tổ chức cho mình một cuộc sống khoa học, văn hóa: + Căn phòng, nhà cửa gọn gàng ngăn nắp. + Trồng hoa tô điểm cho cuộc sống của mình + Nuôi gà tăng gia sản xuất, phục vụ cho cuộc sống của chính mình + Thỉnh thoảng xuống núi tìm gặp lái xe cùng hành khách để trò chuyện cho vơi nỗi nhớ nhà. -> Anh thanh niên có tinh thần lạc quan, yêu đời, sống khoa học. => Anh thanh niên đã chiến thắng nỗi cô đơn và tạo cho mình một cuộc sống đẹp đẽ đầy ý nghĩa với một niềm yêu đời, yêu cuộc sống say mê. * Yêu cầu về dẫn chứng - Phải chọn được những phần tiêu biểu, đặc sắc trong văn bản. - Dẫn chứng phù hợp. *Bàn luận, mở rộng -Ý kiến của nhà văn Thạch Lam hoàn toàn đúng đắn bởi lẽ văn chương ra 0,5 đời không chỉ để phê phán hay lên án những cái xấu, những hậu quả mà chiến tranh để lại cho cuộc sống con người mà quan trọng hơn là mục đích cuối cùng đó là người làm văn muốn thay đổi thế giới, muốn thức tỉnh con người đứng lên đấu tranh giành lại cho mình một một cuộc sống tốt đẹp hơn, đánh đuổi cái ác, cái xấu đã chà đạp lên cuộc sống của con người.Văn chương từ cuộc sống con người mà nở hoa,phải trở về cuộc đời mà kết trái,nó tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của con người.Truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyên Thành Long đã chứng minh đầy đủ ý kiến trên. -Bài học cho người sáng tạo và tiếp nhận: Để tác phẩm có thể đánh thức được trái tim bạn đọc,nhà văn phải có tinh thần trách nhiệm đem hương vị lại cho cuộc đời, đem văn chương phục vụ những lí tưởng cao đẹp,hướng con người tới Chân,Thiện,Mĩ Đồng thời người đọc cần biết trân trọng, nâng niu những tác phẩm văn chương có giá trị, sống với tác phẩm để tâm hồn mình “thêm trong sạch và phong phú hơn”. 2.3. Kết bài 0,5 - Khẳng định lại vấn đề nghị luận - Bài học cho bản thân
File đính kèm:
2_de_thi_hoc_sinh_gioi_cap_huyen_mon_ngu_van_8_nam_hoc_2023.docx
Ma trận đề thi HSG môn Ngữ văn 8.docx

